Tin trang chủ
07/04/2016 07:00
Lượt xem: 1260
Quan tham thời phong kiến bị xử phạt thế nào

CL: Có ai cần các vị ngâm cứu để tốn tiền của dân đâu, hãy cứ theo bộ Luật của nhà Nguyễn mà trị quan tham hẵng, rồi hoàn thiện dần hoặc cứ copy sách giáo khoa của Nhật mà dậy học sinh còn tốt gấp nghìn lần những thứ mà bộ GD đang làm khổ trẻ con nước Việt này!

 Một trong những loại tội phạm mà nhiều triều đại phong kiến đặc biệt lưu tâm, ra luật nghiêm trị là tham nhũng. Theo Chiếu ban hành năm 1042 thời vua Lý Thái Tổ (1009-1028) về việc thu thuế trăm họ, nếu ai thu vượt quá sẽ bị xử theo tội ăn trộm. Người tố cáo lập công thì cả nhà được tha phú dịch trong ba năm. Người ở kinh thành mà cáo giác nhận thưởng bằng hiện vật thu được.

Chiếu năm 1044 nêu: Ai ở kho lụa nhận riêng một thước lụa bị phạt 100 trượng, nhận từ 1 tấm trở lên bị phạt trượng theo tấm kèm 10 năm khổ sai. Cũng trong năm này có một đạo chiếu quy định cấm các quan coi ngục không được sai tù làm việc riêng, nếu vi phạm bị xử 100 trượng, thích chữ vào mặt và vào nhà lao.

Trong các bộ luật cổ, Bộ luật Hồng Đức và Gia Long chú trọng đặc biệt đến việc quy định chi tiết hành vi và hình phạt. Bộ luật Hồng Đức do vua Lê Thánh Tông (1442-1497) ban hành với hơn 700 điều thì chiếm tới 107 điều quy định những hành vi không được phép phạm phải đối với quan lại như: lợi dụng quyền thế sách nhiễu nhân dân, ăn hối lộ, gian lận, bớt xén của công, lợi dụng quyền chức mưu lợi riêng….

Điều 138 của bộ luật này quy định, quan lại mà tham nhũng, nhận hối lộ, làm sai phép nước bị phạt theo các mức sau. Nếu tham ô từ 1 đến 9 quan tiền bị cách chức, từ 10 đến 19 quan thì bị đánh trượng rồi đi đày, từ 20 quan trở lên bị xử chém.

Ngoài hình phạt chính, các quan ăn hối lộ từ 1 đến 9 quan tiền bị phạt 50 quan, từ 10 đến 19 quan thì bị phạt từ 60 đến 100 quan. Của hối lộ một phần trả lại chủ, một phần sung vào kho.

Bằng chính sách mạnh tay với "quan tham", nhà vua ban Sắc dụ với nội dung người nào không phải là thân thuộc của người đảm trách pháp luật mà mượn cớ để vòi vĩnh được biếu tặng, đi lại, chè chén, cầu kết bạn.. đều phải bắt giam, xét tội. Khi đã tham ô, việc định tội không phân biệt hay căn cứ vào giàu nghèo, chức trọng, chức hèn kém. 

Sử sách ghi lại chuyện về viên quan lớn dưới thời vua Lê Thánh Tông tên Lê Bô phạm tội tham ô, buộc vào tội hình. Có quan tên Trần Phong xin cho Lê Bô được nộp tiền chuộc tội. Nhà vua bảo bầy tôi trong triều rằng: Trần Phong xin cho người can tội tham ô được nộp tiền chuộc, như thế thì người giàu có nhiều của đút lót mà khỏi tai vạ, người nghèo vì không có tiền mà phải chịu tội lỗi. Theo vua, Trần Phong làm vậy là dám trái cả phép tắc của tổ tông phải trị tội cả ông này

Trong Quốc triều hình luật thời Lê Sơ còn có một số điều quy định: quan lại không được lấy vợ, kết làm thông gia với người ở nơi mình cai quản; không đưa quan lại về quê hương bản quán trị nhậm; không được tậu đất, vườn ruộng, nhà tại nơi cai quản; không được lấy người cùng quê làm người giúp việc; người có quan hệ thầy trò, bạn bè không được làm việc tại cùng một công sở. Tất cả những quy định này đều nhằm tránh quan lại vơ vét của cải trong dân hoặc để người thân tín lợi dụng nhũng nhiễu nhân dân.

Nhờ pháp luật nghiêm minh dưới thời Lê Thánh Tông, sử sách ca ngợi: “Ngủ đêm mọi nhà không phải đóng cửa, ngoài đường không ai nhặt của rơi”.

Bộ luật Gia Long do vua Gia Long (trị vì năm 1802-1820) ban hành với gần 400 điều thì có 79 điều quy định về các tội liên quan đến tham nhũng, điều chỉnh hành vi của quan lại lạm quyền. Điều 31 quy định, quan lại nhận hối lộ phải chịu hình phạt thấp nhất là 70 trượng, cao nhất là treo cổ.

Điều 111 quy định: Quan lại dùng uy thế (chức vụ) vô cớ bắt trói người và tra khảo họ nơi tư gia (không kể có thương tích hay không thương tích) thì tăng hơn người thường hai bậc tội. Nếu nạn nhân chết, người ấy bị xử treo cổ.

Bộ luật này là kim chỉ nam để các vua trị vì xuyên suốt thời Nguyễn. Dưới thời vua Minh Mạng (năm 1820-1840), người nào tham ô của công dù làm quan với chức vụ cao đều bị vua Minh Mạng xử lý rất nặng, có khi vượt khỏi quy định pháp luật.

Sách sử ghi lại năm 1822, dưới triều vua Minh Mạng, tại Quảng Đức và Quảng Trị bị thiên tai nên gạo đắt, triều đình cho phát 25.000 hộc để bán cho dân. Người lính quản lý kho thóc ở kinh là Đặng Văn Khuê phụ trách phát thóc cho dân, nhưng mỗi hộc thóc lại thiếu một ít. Vụ việc bị phát giác, vua Minh Mạng giao bộ Hình tra xét. Án xong tâu lên, vua Minh Mạng liền ra lệnh chém.

Trong sách Đại Nam thực lục kể, vào tháng 5/1823, một ông quan làm việc tại Phủ Nội vụ tên là Lý Hữu Diệm lấy trộm hơn một lạng vàng bị phát giác. Bộ Hình đưa ra xét xử vụ án. Điều 229 của bộ luật triều Nguyễn có quy định: Kho của vua gọi là Nội Phủ, nó ở trong cấm địa của hoàng thành, nếu lấy trộm món gì ở đó dù nhiều hay ít đều bị tội chém đầu.

Tuy nhiên, với Hữu Diệm, thay bằng tuyên án chém đầu, bộ Hình giảm xuống thành tội đi đày. Vụ án tâu lên, vua cho rằng ở thời vua trước, có một viên quan thông đồng với thợ bạc đúc trộm ấn giả để trộm đổi lấy ấn thật trong kho. Những tên này đều bị chém ngay.

Hữu Diệm dám công nhiên lấy trộm cả cân vàng theo nhà vua trong mắt Diệm đã không có pháp luật. Vua lệnh giải ngay Hữu Diệm đến chợ Đông Ba chém đầu để răn đe những người khác có ý định phạm tội.

Bảo Hà tổng hợp/VNE

 

 

12939178_10154250800952439_1872004229_n

Bình chọn
0
Bình luận
Tên bạn:
Email:
Điện thoại:
Nội Dung:
Xác nhận:

 

 12920903_10154265967037439_1885565775_n

 15036560_1679727945670552_6529024804734984949_n

 

Trong hình ảnh có thể có: một hoặc nhiều người và văn bản

 

 

 

 

 

 

 

  

 

 

Về đầu trang