24/09/2015 16:00
Lượt xem: 1184
Bài ca giữ rừng - Bút ký của Đỗ Trọng Phụng

Từ thời ông bà của ông bà, người Tây Nguyên coi rừng như mảnh vườn chung của cộng đồng. Giàng nhốt các loài muông thú trong rừng cho người Tây Nguyên, để có cái mà ăn sài! Ama Công nhớ, lúc còn trẻ nít, ông thuộc lòng Bài ca giữ rừng.
Rừng đã có từ thời bà.
Núi đã có từ thời ông


Ama Công

Tôi quyết định dứt ra khỏi công việc chuyên môn, lên Buôn Đôn mấy ngày theo lời mời của Hội Văn nghệ Đắc Lắc tham gia trại sáng tác, với ý đồ tìm hiểu hệ sinh thái rừng khộp, bổ sung thêm những điều chưa biết về vùng này.

Thật ra, tôi đã đến Buôn Đôn nhiều lần, nghe ama Công, nhân vật huyền thoại kể chuyện săn bắt voi rừng, nhưng mỗi khi ngồi vào bàn viết lại thấy thiêu thiếu cái gì đấy?

Rừng nào cọp ấy, người xưa nói vậy quả không ngoa. Có lẽ, nhờ rừng khộp lưa thưa và thảm thực vật dưới tán rừng phong phú, đa dạng, nên loài voi rừng (đang có nguy cơ mất dần), chọn nơi đây làm đất cư trú, sinh tồn!

Cái mà tôi thích thú nhất: đó là xã hội loài voi, chúng sống ra sao, yêu ghét, giận hờn thế nào!

Mấy chục năm ở Đắc Lắc, ước mơ của tôi chỉ có vậy!

Rừng Buôn Đôn với tôi, chứa đựng bao điều thiêng, nói đúng hơn là hùng thiêng! Thật ra, tôi đã đến vùng này từ thời trai trẻ, thời khoác ba lô con cóc: xẻ dọc Trường Sơn! Lúc ấy, với tôi rừng này hoàn toàn khác lạ. Rừng gì mà chỉ có một loài cây, đơn điệu thế nào ấy! Những cây dầu trà beng đứng chơ vơ, lẻ loi, đơn độc; trong khi đó, tôi và những người đồng đội rất cần rừng xanh che chở, bảo vệ. Rừng khộp lưa thưa vậy, làm sao che chở được đại quân, rầm rập khúc quân hành. Không che nổi, nhưng chúng tôi vẫn đi; đi với sức mạnh thần linh của những chàng trai Phù Đổng: tất cả cho tiền tuyến, tất cả cho miền Nam ruột thịt!

Lúc ấy, đang là mùa khô bỏng rát! Nước ăn, uống, gạo, thực phẩm; súng đạn và quân trang…đặt lên vai người lính.

Bẩy ngày, rồi lại bẩy ngày nữa!

Lưng chúng tôi như lưng voi, nghềnh ngàng đủ mọi thứ. Cứ như thế, chúng tôi vượt qua chặng đường gian truân, nắng lửa!

Lửa của trời, lửa chiến tranh, ngày đêm tàn phá, thiêu trụi những cánh rừng khộp bạt ngàn, chúng tôi vẫn đi: Đi dưới những cây dầu trà beng cháy trụi khẳng khiu như những bộ xương khô, chĩa tay kêu cứu giữa trời xanh xanh thẳm!

Lạ kỳ thay, trên mặt đất khô cháy kia, mọc lên những mầm xanh, những chiếc lá non tơ bàn bạt như những tai voi! Ấy là mầm cây dầu, lá dầu, cứ non tơ, phơi phới giữa đại ngàn, nhẫn nại chịu đựng hai thứ lửa đốt quái ác kia: cháy rồi lại lên, lên rồi lại cháy!

Thế giới tự nhiên cho loài cây rừng này cách sinh sôi lạ kỳ, chúng tái sinh bằng rễ cây. Muôn vàn những chiếc rễ chùm, rễ phụ chằng chịt dưới đất, lan toả rất rộng, rất xa như những đội quân ngầm, âm thầm trong lòng đất, chờ đợi thời cơ, bất ngờ xông lên, sống bình thản, vô tư giữa muôn vàn cái ác và chết chóc! Cứ như thế, những mầm dầu lớp lớp mọc lên từ những chiếc rễ con. Cái ác quái đản giữa trần gian, không diệt nổi sức sống mãnh liệt của loài cây rừng xương xẩu này!

Rừng và người nơi đây, có cái gì đấy giông giống nhau về đức hy sinh và tinh thần bất khuất!

Phải chăng, sự nghiệt ngã kia, chỉ làm tăng thêm ý chí nung nấu cho những chùm rễ ngầm bật lên chồi biếc!

Thì ra, rừng cũng có sức mạnh siêu nhiên, bất diệt!

Ama Công kể!

Lúc còn trẻ nít, vào mùa khô, mình có những đêm ở giữa rừng sâu thật thú vị! Mình thường theo cha đến hồ Ea So nhặt thú chết. Nói là hồ, thực ra đó chỉ là vũng nước sót lại giữa đại ngàn!

Ama mình cao to, đi đứng lừng lững như voi rừng. Mình được thừa hưởng những thứ từ người cha và từ yàng Rừng, yàng Núi cho: cao to nổi trội, lại có phần tuấn tú hơn cha nhiều. Hương rừng, gió núi cho mình những thứ hiếm ấy!

Chiều nào, thấy cha mình chuẩn bị bành voi lớn làm bằng gỗ cây cà chít đặt lên lưng voi Khăm Bung là mình vui vui trong lòng, tung tẩy chạy khắp buôn! Thích đấy, vui đấy, nhưng mình không nói với ai! Niềm vui ấy, theo mình vào rừng, lên rẫy hết con trăng mà vẫn đầy ắp bụng!

Những buổi tối như vậy, nhà mình ăn cơm sớm hơn ngày thường. Cơm nước xong xuôi, ông già bắt mình vào ngăn trong ngủ sớm, ông cũng đi nằm luôn. Lúc ama gọi dậy, dúi vào tay cây Kreo là mình tỉnh như con sáo đang kiếm mồi giữa ban ngày; chạy ra đầu sàn, con Khăm Bung đứng sát sàn, ghé lưng vào cõng mình trên cổ, vắt vẻo, điệu bộ oai phong, như người Nài voi tài ba, gãi gãi Kreo vào bên má trái, ra lệnh cho Khăm Bung quẹo phải, đủng đỉnh ra hồ Ea So.

Gần sáng, hai cha con ra tới gần hồ, tai mình nghe rõ tiếng quậy nước từ lòng hồ vọng lên thòm thòm.

Hai cha con chọn gò đất cao, xung quanh có nhiều tảng đá to lổng chổng, cột Khăm Bung vào gốc cây cao. Con Khăm Bung được huấn luyện kỹ, rất biết điều, không thể đứng phơi cái lưng voi kềnh càng ra bãi đất bằng, dù to khoẻ như voi cũng dễ bị bầy thú chạy với tốc độ cao húc đổ, xéo dày đến chết. Sức voi không là cái gì với những cuộc chạy đua tranh cướp nước như vậy!

Cha con mình cũng phải leo lên đọt cây rừng lánh nạn. Buôn Đôn thời ông bà, có hai cha con ông kia bị lũ thú dày nát bên hồ. Chuyện ấy, còn truyền mãi đến giờ.

Hồ Ea So vào mùa cạn dòng, nước không trong xanh, mà đục ngầu ngầu, đỏ sậm giống in tô bột nước cà phê. Từ lúc mặt trời đỏ rực đến sáng hôm sau, hồ Ea So không hề ngơi nghỉ, ầm ầm như cái chợ vỡ, bởi đàn thú hoang đen đặc lòng hồ.

Lúc hoàng hôn đỏ lừ như chậu tiết, bắt đầu là bầy voi rừng, trâu rừng, bò tót, bò rừng, chúng ẩn đâu đó tránh nắng, mở cuộc chạy đua lao xuống lòng hồ, uống nước cho đã khát sau một ngày chịu đựng dưới lửa đốt! Con hút nước, con đầm mình chìm ngỉm dưới đáy hồ, con thì dùng vòi đập thùm thùm trên mặt nước cho bõ thèm.

Ánh ngày tắt, bắt đầu là cuộc chạy đua của đủ các loài thú lớn, thú bé, thú ăn cỏ, thú ăn thịt, từng bầy, từng bầy bu kín mặt đất như kiến, làm nát nhầu thảm cỏ. Đó là cuộc tranh cướp nước của bầy dã thú lớn nhất trần gian! Chúng phải cướp bằng được nước; tim gan trong bụng chúng đang réo gào thôi thúc: Không có nước là chết!

Loài thú chậm chân nhất, vẫn là những bầy sói, những con hổ, báo lao như bay, muốn vồ lấy hồ nước; nhưng đến gần hồ, chúng phải chững lại, bò nhoai từng bước, từng bước len lét như thằng ăn trộm! Cái ác trong lòng đánh thức cái đầu quỉ dữ: hãy coi chừng, kể cả những con nai tơ, biết đâu cái sừng non giả nai kia lại sọc thẳng vào ruột! Càng gần hồ, chúng càng then lét, rón rén từng bước, từng bước, căng mắt mở rộng tầm nhìn về phía trước! Xuống hồ, chúng lặng lẽ cố chắt từng giọt. Những hoài nghi, cảnh giác của bọn ác thú cũng bằng thừa. Ở chốn “chợ” chia nước này, không con thú nào có tâm địa ăn thịt con nào, bởi nước cho sự sống vẫn là tối thượng. Cuộc tranh cướp nước diễn ra gay gắt, lộn sừng hầu dưới lòng hồ. Mục tiêu của chúng là cướp được bụng nước đầy, giành được quyền sống một ngày! Không có nước là chết liền!

Những con thú ăn cỏ cũng không bụng dạ đâu sợ chết! Chúng đang cần nước! Điều đó, mỗi con vật sống trên vùng cao nguyên bỏng rát biết rõ hơn cả ông Giàng! Vì mục đích ấy, mà chúng lãng quên cái ác đứng ngây ngô sát bên mình! Những con thú ăn thịt nhắm mắt cạp đại một cái, cũng vớ được con mồi tươi rói! Nhưng không, chuyện đó không bao giờ diễn ra ở nơi phân phối nước quá khổ này! Chỉ khi nào bụng đã no tròn nước, trở lại rừng nghỉ ngơi một lát, thì cái nhu cầu ăn thịt lẫn nhau kia mới trở lại trong đầu chúng.

Yên tĩnh, là giây phút sống lại sự độc ác, hiểm sâu của những âm mưu toan tính xấu xa, bỉ ổi!

Mình biết nhiều chuyện rừng nhờ người cha có kinh nghiệm đi rừng dầy dạn bày cho từ lúc lít nhít, cánh mũi còn xậm xịt thò lò xanh lét!

Trên đọt cây cao nhìn xuống chảng cỏ, thấy dưới đất lúc nhúc lũ thú chạy xuôi, chạy ngược húc vào nhau đổ kềnh càng, rồi dày xéo, dẫm đạp lên nhau, tranh giành sự sống: Con nào mạnh con ấy sống, con nào yếu thì nát thịt, nát xương!

Rạng sáng, những con thú chậm chân nhất đã về rừng, cha con mình xuống bãi cỏ lượm từng xác con thú chết, vứt vào gùi.

Mặt trời lấp ló đầu sườn núi là lúc phải về. Dẫu còn nhiều thú mấy cũng phải dừng!

Phần còn lại là của loài dã thú!

Lúc này, trên đồng cỏ là đất sống của chúa tể rừng xanh, và những loài chim ăn thịt! Sau một giấc ngủ bù, các vị đã đủ thời giờ toan tính những việc cần phải làm, bèn trở lại bãi cỏ nhặt những con thú chết, tống táng cho đầy cái bụng tham lam!

Không thể chậm chân, không thể chống lại Luật Rừng!

Ổng thúc voi đi vội, vượt bãi tử thần trước lúc các vị hung thần có mặt. Tốt nhứt, tránh những trận đụng độ không cần thiết; phải giở cây lao nhọn hoắt ra nói chuyện với chúng, ổng không thích!

Voi Khăm Bung cũng vậy, chú không thể đủng đỉnh, mà phải chạy huỳnh huỵch lao đầu về phía trước, để lại phía sau lớp bụi mịt mùng.
Giàng cho người buôn Đôn đầy bành voi những con thú ngon vậy là quá tốt rồi!

Về đến chân núi Chư Min, ông già rút cây Kipá đen bóng ra thổi: Tu tú túc! Tu tú túc!..

Đã thành thông lệ, người buôn Trí, buôn Lành gần đó nghe tiếng Kipá liền phóng ngựa lao ra. Cha con mình chia số thịt thú lượm được thành ba phần bằng nhau, để hai phần kia trên hai tảng đá to, rồi thúc Khăm Bung đi thẳng về buôn.

Từ thời ông bà của ông bà, Luật tục người M’Nông, ÊĐê, Gia Rai, BaNa ở vùng này dậy thế: của rừng là của chung mọi nhà; Giàng không cho một ai, phải chia đều cho mọi người. Phần thịt thú còn lại trên bành voi, ổng đem về buôn, chia đều cho các bếp.

Những ngày như thế, bếp nhà nhà buôn Đôn, buôn Trí, buôn Lành thơm lừng mùi thịt thú nướng!

Đấy là Luật Rừng ở chốn rừng xanh núi đỏ: mọi thứ sanh ra trên mặt đất và trong rừng đều là của nhà Giàng. Giàng cho người, người phải biết giữ gìn, bảo vệ! Người Buôn Đôn thuộc điều này từ lúc trong bụng mẹ!

Bằng chứng là, trước đây, voi rừng và thú ăn cỏ nhiều lắm, nhiều vô kể, người đụng thú, thú cụng đầu nhau là chuyện thường. Rừng Tây Nguyên như cái chuồng lớn, nuôi nhốt nhung nhúc những chim thú và những cỏ cây hoa lá lạ.

Những bà mẹ voi, là những con voi cái đầu đàn hướng dẫn con, em, cháu chắt trong đàn biết ăn cây nào, để cây nào. Ăn như voi, uống như voi, người ta nói vậy, nhưng chắc chỉ có Giàng Nguăch Ngual, (vị thần chăn voi của Trời) là biết voi ăn nhiều đến nhường nào?

Rừng Tây Nguyên không phải một loài voi ăn cỏ; mà rất nhiều, nhiều đến vô kể: những đàn bò rừng, bò tót, min, trâu rừng, hươu, nai, sơn dương…, có đàn đến cả trăm, cả ngàn con, chúng đều ăn cỏ! Thế giới muôn loài dã thú ở trong rừng tưởng như là tranh giành, dẫm đạp lên nhau để sống kia, lại có một trật tự sinh sôi rất lạ lùng, kỳ diệu như phép Giàng cho! Từ loài thú lớn, đến loài thú bé, chúng đều biết ăn và biết để dành!..

Xã hội dã thú cũng có những chuyện lạ đấy chớ!

Hết đàn voi này đến đàn voi khác; hết bầy trâu này đến bầy bò khác…chúng cứ ăn qua, ăn lại, chân chúng dẫm đạp lên nhau đấy, nhưng cỏ Tây Nguyên không bao giờ nát, cứ bời bời xanh ngút ngát tận chân trời! Những đồng cỏ dằng dặc rộng dài, xen lẫn rừng khộp trải từ Đắc Nông, sang Đắc Lắc, tới phía tây nam tỉnh Gia Lai, sang Lào, Căm pu chia là kho thức ăn hoành tráng của đàn thú rừng xứ Đông Dương. Sở dĩ, gọi là thú rừng xứ Đông Dương, vì lũ thú rừng chúng sống không biên giới, lãnh thổ, ăn xa lắm! Nhất là lũ voi rừng, chúng thích sống theo bầy đàn, vừa ăn vừa di chuyển chầm chậm đấy, nhưng chỉ ít ngày là hết bãi cỏ này, lại chuyển sang bãi cỏ khác; mà rừng cỏ nguyên sinh vẫn tươi rói giữa trần gian!

Lũ voi rừng thích sinh sống dưới tán rừng khộp.

Thật ra, rừng khộp là tên gọi thông thường của bà con Tây Nguyên, chính là hệ sinh thái rừng thưa cây họ dầu gồm: dầu trà beng, dầu đồng, dầu rái, một ít dầu đỏ, dầu đá.

Dưới tán rừng là những thảm cỏ, nhiều nhất là cỏ le, một loài tre nhỏ xinh xắn mọc chen nhau thành rừng cỏ xanh tận chân trời. Ngoài cỏ le, nơi đây còn một loài cỏ nữa mọc thành rừng. Đó là cỏ đuôi chồn. Những bông hoa cỏ to như cái đuôi chồn mọc đều chằn chặn, in như cánh đồng kê nhà Giàng dập dờn đung đưa trước gió.

Rừng cây lá to đấy, nhưng mật độ cây rừng thưa, cành lá lại càng thưa thớt, vào cuối mùa khô, rừng khộp rụng hết, còn trơ lại những cành cây gầy guộc, xương xẩu, leo ngoeo.

Trời đổ lửa xuống rừng nung hầm hập sáu, bẩy tháng liền không nghỉ, làm cho rừng khô khốc. Những cây dầu rễ bám sâu vào lòng đất có đến trăm mét bắt đầu khát nước, lá chuyển dần từ mầu xanh sang mầu đỏ hung rồi đỏ tía, cuối mùa khô chuyển màu đỏ gắt, rừng rực như mầu máu tươi. Là lúc rừng vặn mình thay lá! Tháng cuối mùa khô, là lúc ông trời vắt cạn kiệt nước, rừng khộp khẳng khiu chới với giữa trời bao la, vượt qua cái nắng lửa ban ngày, cái giá lạnh tê tái ban đêm, để rồi lại tươi xanh bời bời khi trận mưa đầu mùa đổ xuống.

Cỏ dưới chân rừng cũng úa vàng, chuyển dần sang mầu nỏ tom, khô xác. Thảm cỏ đẹp là thế cũng đến lúc lụi tàn, còn trơ dưới tán rừng là những tảng đá nhám đen xậm khô quoắt, khô queo từ thời ông bà, cùng với đất cát trắng lấp loá thi gan dưới nắng lửa cuối mùa. Những con suối cũng hết nước, sông cũng chết khô từng đoạn, phơi lòng dưới nắng chói chang. Không phải người Tây Nguyên thì chớ có vào rừng khộp mùa khô mà chết rục, phơi xương trắng có ngày!

Sức chịu đựng của người, của chim, thú và rừng khộp ở vùng này cũng thật lạ lùng. Dường như mọi sinh vật nơi đây đều uống no nước trong mùa mưa, để rồi cắn răng vượt cạn qua mùa nắng đổ dài đằng đẵng.

Trong lòng cái chảo lửa khổng lồ lúc nào cũng muốn sấy khô muôn vật, những tộc người Tây Nguyên vẫn điềm tĩnh sống trong cái lò nung hầm hập của trời, của đất; họ giống như những con lạc đà giữa vùng sa mạc khô cằn, đủng đỉnh vượt biển cát đời người!

Cái xanh thẳm tươi mát bao la của rừng mùa mưa, cái khô cháy lụi tàn, đến chết của rừng mùa khô là hai mảng mầu đối lập nhau càng tô thêm vẻ đẹp kỳ ảo cho rừng khộp bớt đơn côi giữa đại ngàn.

Thiên nhiên hoang dã thật tuyệt vời! Phía trên là rừng khộp lưa thưa, bên dưới là thảm cỏ dầy cùng với bầy thú giầu đến vô tận, làm nên một rừng khộp Tây Nguyên, bức tranh nghệ thuật sống, đẹp mộng mơ, không tô vẽ! Bức tranh nổi ấy, trải bát ngát tận chân trời, đẹp lung linh lúc bình minh hồng rừng rực chân trời phía đông, cả lúc mặt trời bỏng gắt trên lưng bầy voi, lúc hoàng hôn đổ vàng trên thảm cỏ, in hình đen sậm bóng dáng những cây dầu khẳng khiu trên nền trời xa xanh thẳm. Bức tranh thiên nhiên kỳ vĩ ấy xin cam đoan chỉ xứ Tây Nguyên mới có, những nơi khác nằm mơ không có được vật Thiên bảo ấy!

Trên bức tranh thảm kết bằng cỏ cây rừng nguyên sinh là những bầy voi rừng đủng đỉnh đó đây, cùng với những loài thú ăn cỏ khác: hươu, nai, hoẵng, bò tót, bò rừng, min, trâu rừng…sống thành bầy, theo đó là những loài thú ăn thịt: hổ, báo, sói, chồn…chúng sống thành những bầy đàn, làm cho mảng rừng sống này lúc nào cũng ồn ã theo qui luật vòng xoáy sinh tồn của thiên nhiên hoang dã.

Từ thời Giàng cho voi và các loài thú ăn cỏ, các loài hổ, báo, sói, chồn ăn thịt; chúng cứ ăn nhau tới lúc Ama Công biết cầm cái dây Rse brăt cột chân gần ba trăm con voi rừng mang về Buôn Đôn mà rừng không cạn; bầy thú rừng cứ săn đuổi nhau chạy hoài, mà rừng cứ xanh tươi bát ngát!

Ama Công nhớ lại!

Thời ông còn trẻ lắm! Vào lúc gần trưa, một ông già đi ngang qua nhà lên tiếng gọi:
- Y Cung à! Y Cung ới! Trưa nay buôn mình hết thịt ăn rồi! Mày vào rừng xem có con mang, con nai nào xin Giàng cho buôn mình một con!

Chàng Y Cung tức thì nhẩy lên mình voi, lững thững ra đầu buôn. (Lúc đó, rừng còn ở đầu buôn mình mà!)

Mặc voi nhà, mặc chàng Y Cung, bầy thú rừng vẫn nhởn nhơ ăn cỏ; chàng giương cung lên chọn bắn một con; phải chọn bắn không trúng con thú con đang nằm trong bụng mẹ; chỉ bắn một con thôi, không được bắn nhiều! Những người khác trong buôn Đôn, những người ở các buôn làng khác trên Tây Nguyên đều làm vậy!

Từ thời ông bà của ông bà, người Tây Nguyên coi rừng như mảnh vườn chung của cộng đồng. Giàng nhốt các loài muông thú trong rừng cho người Tây Nguyên, để có cái mà ăn sài! Ama Công nhớ, lúc còn trẻ nít, ông thuộc lòng Bài ca giữ rừng.

Rừng đã có từ thời bà.
Núi đã có từ thời ông
Cây rừng đã có từ thời xa xưa của ông bà để lại
Ông bà giữ rừng cho con cháu
Ông bà giữ đất cho con cháu
Ông bà giữ nước cho con cháu
Chim thú trong rừng ta phải bảo vệ
Thấy chim thú không được đuổi bắt
Bắt con chồn không được bắt con mẹ
Bắt con chim không được bắt con mẹ
Bắt con cá không được bắt con mẹ
Bắt con thỏ không được bắt con mẹ
Rừng, đất, nguồn nước không còn
Con người, muôn loài sẽ không sống nổi
Bảo vệ cây rừng là bảo vệ bon làng
Bảo vệ cây rừng là bảo vệ rẫy nương
Bảo vệ cây rừng là bảo vệ bến nước
Bảo vệ cuộc sống của lũ làng

Mãi sau này, khi đã là chàng trai, nhận lễ trưởng thành, Ama Công mới biết bài hát giữ rừng này chính là luật tục của ông bà để lại, buộc mọi người phải cất giấu trong lòng, để biết giữ rừng!

Nhóm văn nghệ sĩ Đắc Lắc lục tục lên xe, kéo đến Vườn Quốc gia Joóc Đôn, là nơi có hệ sinh thái rừng nhiệt đới đặc trưng, có voi rừng, hổ, báo, công, trĩ, gà lôi…Ai ai cũng hau háu muốn lần giở lại cuốn sách đỏ này, xem lũ chim thú quí hiếm ẩn náu nơi nao?

Đã nhiều năm, những người làm nghề rừng ở Vườn quốc gia Joóc Đôn đang cố công giữ cho nhân loại kho báu thiên nhiên độc nhất vô nhị, chứa nhiều nguồn gien quí hiếm.

Bạn tôi – ông Đoàn Xuân Thiện, thay mặt lãnh đạo cơ quan luôn miệng ca cẩm chửi bới bọn Lâm tặc, chúng đang dùng mọi âm mưu, thủ đoạn rút ruột khu rừng. Tám chục cán bộ Kiểm lâm của Vườn, chia làm tám trạm gác rừng ngày đêm, mà vẫn không sao giữ nổi bọn Lâm tặc quái gở kia!
- Mỗi ngày chúng chỉ chở vài tấc gỗ, đã có vài triệu đồng. Một con tắc kè bán rẻ năm ngàn đồng. Hàng ngày, anh em cán bộ Kiểm lâm của Vườn đi tuần tra gỡ hàng trăm bẫy thú, bắt hàng trăm chiếc xe đạp! Ông Thiện nói vậy!

Kể đến vài ngày cũng không hết những âm mưu quỉ quyệt của bọn Lâm Tặc!

Một người nào đó ở cuối phòng thở dài:
- Chà! Lâm tặc nhiều dữ vậy ta?!

Mấy người khác thì thào:
- Rừng vàng mà! Lũ giặc rừng bao giờ chả ham mê lủm vàng bỏ túi!

Về phía tôi, rất thương cảm với bạn mình và những chàng Kiểm lâm trẻ tuổi ngày đêm vất vả lăn lộn, đổ mồ hôi, sôi nước mắt, (có khi còn có cả đổ máu) giữ rừng, vì lũ giặc rừng quái gở kia! Quả là, những người giữ rừng đang đứng trước cuộc chiến không cân sức. Rừng thì rộng, dài hàng chục vạn ha, cùng với nhiều thứ cỏ cây, muông thú, cái gì cũng quí, dưới sông Sê Rê Pốc cá tôm và các loài thuỷ tộc nhiều vô kể. Nhìn lên rừng, ngó xuống sông cái gì cũng hiếm, cũng nằm trong sách đỏ, thì làm sao chúng chẳng cuồng điên đổ xô vào góc vườn này?!

Ông Thiện than phiền về cuộc điền dã chốn sơn lâm đêm qua của ông và một số chuyên gia nước ngoài, đội đèn đếm thú trong rừng sâu: Đi suốt đêm cũng chỉ gặp vài ba con ăn…đèn!

- “Lũ thú ẩn núp ở đâu hết rồi, sao không ra trình diện quí ông?!”

Nỗi buồn dâng trên gương mặt bạn. Tôi cũng buồn không kém!
Có phải vì bọn giặc rừng quá nhiều, ngày đêm chăm chắm chuyên tâm trộm đạo, mà cái Vườn quí với hằng ha sa số sinh học này đang nghèo kiệt?!

Những biện pháp giữ rừng từ gốc được thực thi. Đó là việc khoán rừng tới tận hộ lao động và cộng đồng buôn làng, cho bẩy xã sống quanh vùng rừng đệm: Mỗi gia đình được nhận khoán vài, ba chục, đến năm, sáu chục ha, với giá mới, một trăm ngàn đồng một ha; đủ tiền mua gạo cho họ! Buôn Giang Phốc, (nằm trong Vườn rừng) và buôn Giang Lành của bà con dân tộc thiểu số tại chỗ, được hỗ trợ bằng nhiều chính sách như là: đắp đập, làm thuỷ lợi, xây dựng cánh đồng lúa nước, đường giao thông, vay vốn ngân hàng, giúp bà con chuyển đổi cơ cấu cây trồng, một bộ phận lao động đang được hợp đồng làm du lịch sinh thái, văn hoá cùng với các nghề truyền thống…Nói tóm lại, những người, những buôn làng sống quanh rừng phải có đời sống ổn định, để họ chuyên tâm giữ rừng.

Bên cạnh đó, Vườn Quốc gia Joóc Đôn đang áp dụng biện pháp cải thiện hệ sinh thái vùng này, ngõ hầu gọi chim thú về lại vườn xưa! Đó là phương pháp chặn dòng những con suối, làm hồ nước ở giữa rừng, tạo nguồn nước tập trung cho chim thú về sinh sống! Chẳng biết bầy dã thú có về?!

Đất lành chim đậu! Cầu Giàng ban phước lành cho lũ muông thú trở lại khu rừng này như thời ama Kông còn trẻ - cái thời ông và người cha thân yêu đến hồ Ea So nhặt thú rừng chết vì những cuộc tranh cướp nước, để những người bạn tôi viết tiếp Bài ca giữ rừng thời đổi mới!

Đỗ Trọng Phụng.
Trại sáng tác Buôn Đôn ngày 2/5/2007.

Bình chọn
0
Bình luận
Tên bạn:
Email:
Điện thoại:
Nội Dung:
Xác nhận:

 

 12920903_10154265967037439_1885565775_n

 15036560_1679727945670552_6529024804734984949_n

 

Trong hình ảnh có thể có: một hoặc nhiều người và văn bản

 

 

 

 

 

 

 

  

 

 

Về đầu trang