22/12/2015 16:00
Lượt xem: 1309
Lính Trinh sát và Đại trưởng - Hồi kí của Nguyễn Thanh Quang

Những ngày trong trẻo của cuộc đời tôi vĩnh viễn nằm lại quả đồi Thanh Hà cùng với kỷ niệm về Đại đội Trinh sát và anh – Người Thủ trưởng duy nhất mà tôi yêu quí.

Kính tặng Anh Đắc và các chiến hữu C20.E3.F338

Ảnh: Tác giả. Tháng 12.1975

Sau 2 tháng huấn luyện, chúng tôi sang trường bắn Yên dũng, Cẩm khê kiểm tra bắn đạn thật bài 1 và 2. Bài 1 bắn bia số 4, 3 viên tôi bắn được 25 điểm. Bài 2 điểm xạ 2 loạt tôi cũng bắn dính bia được 2 viên.

Trở lại Đông thành là những ngày vô định. Không phải tập bắn, lăn lê bò toài mà là những ngày học chính trị chán ngắt, rồi tập điều lệnh “mốt hai mốt củ cà rốt”, rồi đi xin tre, xin rơm về sửa doanh trại…

Sau những ngày hân hoan ăn mừng Giải phóng Sài gòn, cảm giác hẫng hụt của tôi ngày càng lớn dần. Cái động cơ góp xương máu của mình để giải phóng quê hương, Tổ quốc không còn nữa. Tôi bắt đầu thấy tiếc cái tuổi trẻ đang nứt toác trong người, thôi thúc tôi nghĩ đến những việc làm ý nghĩa hơn, lớn lao hơn là hàng ngày mốt hai mốt quanh đồi. Tuổi trẻ cứ tan dần theo mỗi bước chân. Nhất là những lá thư nhận được từ bọn bạn phổ thông, thông báo kết quả thi Đại học, thằng Thiện đỗ Đại học Ngoại giao (2), thằng Hiền thừa điểm đi nước ngoài (3), con Hoa vào Đại học Y(4)… mừng cho chúng nó thì ít, mà xót xa cho mình nhiều hơn. Những câu hỏi về lý tưởng, về ước muốn thật sự của bản thân, về sự công bằng xã hội… cứ xuất hiện thường xuyên hơn, dầy đặc hơn…

Một hôm, không biết vì lí do gì tôi là thằng ăn cơm trưa muộn nhất Đại đội. Tôi đang vội vàng lấy gói muối vừng ở túi cóc của ba lô đặt trên giá thì nhìn thấy bốn năm ông sĩ quan đang đứng ở cửa trung đội nhìn tôi chỉ trỏ, trong đó có ông Thiêm trung úy Đại trưởng C tôi, Trung úy Giang Chính trị viên C22, một ông Chuẩn úy to cao và một trung úy nữa mà sau đó tôi không gặp lại.

Vừa ngồi bỏm bẻm nhai bát cơm độn ngô xay với muối vừng, vừa nghĩ về cái vụ chỉ chỏ tôi cứ lo lo. Nhưng không thể giải thích được. Rồi ngày hôm sau tôi cũng quên đi.

Ba ngày sau, sáng ngày 22 tháng 6 năm 1975. B trưởng Kiểm thông báo tôi không phải tập mà thu xếp quân trang lên Tiểu đoàn bộ nhận nhiệm vụ mới.

Sau khi bàn giao súng đạn. Ba lô gọn gàng, tôi lên D bộ mà cứ thấp thỏm không biết sẽ đi đâu, về đâu.

Trước cửa Tiểu đoàn bộ đã có khoảng hai chục thằng cũng đang ngơ ngáo như tôi. Toàn lính C22 và C24, Đại đội tôi có 8 thằng, trong đó có cả Vinh “nhà thổ” (1). Chúng tôi thầm thì hỏi nhau, nhưng không thằng nào có câu trả lời, chỉ là đoán gìa đoán non.

Chờ khoảng 15 phút, ông Chuẩn úy to cao hôm nọ từ trong Tiểu đoàn bộ bước ra giới thiệu tên là Kim, trợ lý Trinh sát Trung đoàn. Ông Kim điểm danh và thông báo chúng tôi từ nay thuộc biên chế Đại đội Trinh sát (C20) trực thuộc Trung đoàn. Những tiếng thở dài nhẹ nhõm ghìm nén, những ánh mắt tươi mới giãn ra…

Chúng tôi vui vẻ hành quân 10 cây số theo Chuẩn úy Kim lên Trung đoàn bộ ở xã Thanh hà, huyện Thanh ba (cách thị xã Phú Thọ khoảng 5 km). Hết dãy nhà của Trung đoàn, qua sân bóng là dãy lán trại của C20 nằm tụt ngay dưới sân bóng. Ra đón chúng tôi là một ông Thiếu úy, cao, đen có nụ cười rất tươi khoảng 30 tuổi. Ông đón chúng tôi vào lán, giới thiệu qua 2 B trưởng: Chuẩn úy Bo và Thượng sĩ Vũ Nhật Hiệu. Ông Hiệu thì tôi biết từ trước, vì ông là B trưởng B2 của C24 (đại đội cũ của tôi).

Ngày hôm sau, thêm khoảng 20 thằng nữa từ C21 và C23 do Trung úy Giang dẫn lên. Chúng tôi được biên chế vào 7 phân đội (A - tiểu đội), B1 do Chuẩn úy Bo làm B trưởng có 3 tiểu đội và tiểu đội thông tin nằm ở nửa ngoài lán. B2 do Thượng sĩ Vũ Nhật Hiệu làm B trưởng, nằm ở nửa trong. Hai nửa được phân ra bởi 1 vách ngăn bằng nan tre.

Tôi được biên chế vào A7 – Tiểu đội thông tin do thằng Chinh, Hạ sĩ, lính 72 người Hà tây làm tiểu đội trưởng.

Ngay tối hôm đó có cuộc họp Đại đội đầu tiên. Trung úy Chỉnh Chủ nhiệm Trinh sát Trung đoàn – một người nhỏ nhắn, trắng trẻo, khuôn mặt sáng sủa, thư sinh và Chuẩn úy Kim xuống dự. Trung úy Giang tự giới thiệu là Chính trị viên, Thiếu úy Nhâm Văn Đắc (cái ông cao đen có nụ cười tươi) là Đại đội trưởng; Chuẩn úy Hoàng Trọng Phu là Đại đội phó. (Chuẩn úy Phu cao, chắc chắn, vui vẻ, chỉ mỗi tội mặt rỗ min).

Cả Đại đội chỉ có 53 thằng, trong đó 5 thằng anh nuôi. C bộ có 3 cán bộ, 1 liên lạc và 1 y tá. Lính trinh sát thực thụ chỉ có 43 thằng gồm cả cán bộ trung đội. Lính lại toàn học sinh lớp 10, chỉ có 2, 3 thằng đang học lớp 9. Có thể nói Đại đội Trinh sát chúng tôi là Đại đội có học vấn cao nhất Trung đoàn lúc đó. Hình thể lại sàn sàn như nhau về chiều cao (khoảng 1m65 đến 1m70). Nói không ngoa, khuôn mặt thằng nào thằng ấy cứ sáng ngời ra.

***
Đấy là những ngày tháng vui vẻ nhất trong cuộc đời lính của tôi. Hàng ngày chúng tôi tập những bài binh chủng như: võ thuật, tiềm nhập, đột nhập, đi góc phương vị, đắp sa bàn… những thứ mà hầu như thằng thanh niên mạnh khỏe nào cũng khoái. Ngoài các buổi tập nặng nhọc nhưng thích thú, chiều nào chúng tôi cũng có thời gian chơi bóng chuyền, bóng đá và bóng bàn (sân bóng chuyền trong khu vực đại đội, sân bóng đá ở sát nhà, góc bên kia của sân bóng là phòng chơi bóng bàn của Trung đoàn bộ). Rồi hát hò, làm báo tường…, rồi tham gia hội thao Trung đoàn, Sư đoàn. Rồi đi làm Kiểm soát quân sự… Cái gì cũng có lính trinh sát. Thậm chí Trung đoàn trưởng Ngô Trường Độ (Thiếu tá – 28 tuổi, gần như Thiếu tá trẻ nhất toàn quân lúc đó) còn giao nhiệm vụ cho C20 phải học nhẩy tầu hỏa để đi bắt lính đảo ngũ. Đã thế chế độ ăn của lính Trinh sát là 1,2 đồng/ngày, trong khi bộ binh chỉ có 0,68 đồng. Chúng tôi chỉ ăn hết xuất trong 1 tháng đầu, còn sau đó hầu như bữa nào cũng thừa ê hề (cả thịt cá lẫn trứng ốp la).

 

Loạt ảnh minh họa
Luyên tập võ thuật
Mật phục
Tiềm nhập
Đắp sa bàn

Cán bộ trung đội trở lên thì toàn xuất thân từ Lữ đoàn dù 305 (tiền thân của Sư đoàn Đặc công ngày nay). Họ là ước mơ võ thuật của chúng tôi. Từ lính đến quan lúc nào cũng chan hòa, vui vẻ.

Cá nhân tôi thì còn bận bịu hơn nhiều. Tiểu đội tôi ngoài giờ học chung với các tiểu đội khác các môn binh chủng còn phải học thêm kiến thức về thông tin vô tuyến, cách sử dụng máy thông tin 2W. A tôi được giao 2 cái máy 2W, to như cái laptop, nhưng dầy khoảng 20 phân, nặng đến hơn 10kg ấy. Mỗi lần thực hành. 4 thằng 1 máy trên 2 quả đồi khác nhau. Sau khi tập liên lạc trên tần số qui định, lúc giải lao lại hẹn nhau trên một tần số khác (đã qui ước trước khi đi tập). “Quần phíp gọi bu dông, quần phíp gọi bu dông! Nghe rõ không? Trả lời!” – “Bu dông nghe rõ, Bu dông nghe rõ! Bu dông đã sẵn sàng. Quần phíp cởi chưa? Quần phíp cởi chưa? Nghe rõ ko trả lời!”… Có một lần đang mải mê tán láo, tôi xuýt bị thằng Chinh tát cho một phát. May mà tay nó dừng lại kịp và cũng may mà tôi kịp nhận ra chúng tôi đã nghịch ngợm một cách vô ý thức. Nếu không thì không biết chuyện gì sẽ đến vì cái tính nóng này của tôi. Từ đó, tôi không tham gia vào cái trò ngu xuẩn ấy thêm một lần nào nữa.

Máy thông tin vô tuyến 2W

Ngoài giờ tập các môn trinh sát, thông tin tôi còn phụ trách tờ báo tường của Đại đội. Hết ra thị xã Phú thọ mua giấy, bút vẽ, bột mầu, tôi còn phải tự trang trí, vẽ minh họa… rồi viết bài, làm thơ. Qui định của Đại đội, mỗi A phải có ít nhất 5 bài 1 tháng. Mang tiếng là toàn lính lớp 10, nhưng bài viết phần lớn là lởm khởm, chúng nó chỉ viết quấy quá cho xong. Thậm chí còn chẳng nộp. Tôi lại phải sửa lại đến hơn 30% mỗi bài, rồi viết thêm và ghi đại tên một thằng nào tôi thích. Nghĩa là tôi làm gần như mọi việc của tờ báo tường, từ Xã luận, truyện ngắn, thơ… và cả truyện cười kiêm thêm cái việc “in ấn” (chữ tôi chỉ cần nhìn, con gái đã đổ rồi. Khỏi cần tán). Và tờ báo cứ ra hàng tháng.

Đã thế. Để chuẩn bị cho kế hoạch “hậu chiến”, bạn bè phổ thông gửi cho tôi toàn bộ sách giáo khoa Toán – Lý – Hóa của lớp 10. Thằng Hiền bạn thân của tôi còn chép tay toàn bộ các công thức Toán của các năm cấp III vào một cuốn sổ nâu gửi lên cho tôi. Thằng Minh “già” (5) mang lên cho tôi bộ sách in đề thi Đại học 3 môn Toán – Lý - Hóa khối A, B từ 1970 đến 1972. Sách vở cửa tôi nhét đầy 1 thùng lương khô 702 và nó cứ đi theo tôi suốt cuộc đời lính (6). Cứ hở ra là tôi mang sách ra học và giải các đề thi đại học, chuẩn bị sẵn cho ngày ra quân.

Không biết bộ đội bây giờ thế nào. Hồi xưa quân số 1 đơn vị được chia ra 3 phần. 1 phần được đi chơi tối thứ Bẩy, 2 phần chia nhau đi chơi sáng và chiều Chủ nhật. Mỗi Tiểu đội được phát 1 đèn dầu bằng tôn tráng kẽm.Tôi đề nghị với bọn trong A: cho chúng mày xếp hàng đi chơi suất của tao. Đổi lại, đèn dầu của Tiểu đội một mình tao sử dụng. Cả A vui vẻ đồng ý. Phải thôi, ra thị xã ngắm bọn con gái; uống cà phê nghe nhạc vàng (chúng tôi hay tụ tập ở quán cà phê bên trái ga Phú thọ, ở đó có 1 giàn Sony 630 mới chuyển từ Sài gòn ra với Sơn ca 7, rồi Tình thư của Lính…). Thằng nào chả thích. Còn tôi, mỗi tối sau giờ sinh hoạt đại đội lại cặm cụi học, viết nhật ký, đôi khi cả làm… thơ nữa.

Thời gian của tôi kín mít. Chẳng có lúc nào mà nghĩ chuyện vớ vẩn.

Một lần, tôi gác đêm từ 1 – 2 giờ sáng. Tôi chọn vị trí gác phía sau dãy lán của lính, nhìn lên E bộ, liếc sang bên phải là nhà C bộ. Ở vị trí này tôi có thể nhìn thấy bất kỳ động tĩnh gì của Trung đoàn bộ qua khoảng sân bóng mênh mông và có thể nghe được tiếng kẹt cửa từ nhà C bộ. Như thường lệ, tôi yên tâm thắp đèn dầu, đặt sát vách đất cao hơn 1 m, được hạ bậc để làm nhà trung đội, phía trên là sân bóng. Tôi lấy một mảnh mo nang che ánh sáng hướng về nhà C bộ rồi yên tâm ngồi giở sách ra học.

Một bàn tay cứng như gọng kìm ấn vào hõm xương quai xanh bên phải làm tôi đau nhói. Tôi vội quờ tay trái vớ khẩu AK báng gấp đang dựng ở bờ đất đứng dậy, nhưng gần như không thể, mồ hôi vã ra…

Mấy giây sau, khi cảm giác bàn tay đã rời khỏi hõm xương, tôi ngước lên và nhìn thấy cái dáng khòng khòng của Đại trưởng Đắc. Không dám nói câu nào, tôi im lặng chờ những lời khiển trách…

- Che thì che hướng Trung đoàn. Nhưng lần sau thì đừng thắp đèn lúc gác nhé. – Anh Đắc nói nhẹ nhàng rồi bỏ đi. Tôi vẫn đứng như trời trồng, nhìn theo anh mà lòng nể phục. Tất nhiên, tôi không bao giờ học khi gác nữa.

***
Anh Đắc cao, da ngăm ngăm đen, vai phải hơi lệch xuống. Nhìn anh như nhìn một thân cây gỗ lim chắc chắn. Đôi mắt ấm áp, nghịch ngợm. Môi trên hơi ngắn không đủ phủ kín hàm răng trên hơi hô (hơi thôi – lỗi là tại cái môi trên ngắn), mỗi khi anh cười khoe hàm răng sáng trắng, đôi mắt long lanh … rồi kéo môi trên xuống che hàm răng một cách e thẹn… người tôi cứ thấy sảng khoái, nhẹ nhàng thế nào ấy.

Cái vai lệch của anh, nghe đâu hồi xưa đi bắt Vàng Pao (7) bị bọn bảo vệ đánh cho ra nông nỗi thế. Không rõ thực hư thế nào, vì khi tôi hỏi anh chỉ cười không trả lời. Nhưng cái giai thoại đó luôn làm chúng tôi rất ngưỡng mộ anh.

Quê anh ở vùng núi huyện Đại từ, Thái nguyên. Anh hơn tôi 8 tuổi. Nhưng nhìn già hơn cái tuổi 25, 26 vì nước da “nhìn lâu mới thấy đẹp” ấy. Khi làm Đại đội trưởng bọn tôi, anh vừa tốt nghiệp khóa Sĩ quan Trinh sát đầu tiên của trường Sĩ quan Lục quân. Anh thông minh, hóm hỉnh, không hề quan cách và rất quan tâm đến lính. Đặc biệt, anh rất tôn trọng lính.

Tôi có những kỷ niệm không bao giờ quên với anh.

Một chiều, tôi, thằng Phú “mều” (8), thằng Hợp “bợm” (9) và thằng Dũng “khèo” (10) đang chơi tiến lên ở sân đại đội. Thằng nào thua phải ngậm cái bát sắt của Trung quốc mà lính thời đấy gọi là Bo B52, thằng nào về nhất mới được hạ bát xuống. Anh Đắc đi đến, đứng xem một lúc rồi đề nghị được chơi cùng (tôi đã nghe nói lão này chơi tiến lên khét tiếng ở Trung đoàn bộ). Thằng Phú “mều” dịch sang nhường chỗ cho Đại trưởng. Tự nhiên tôi lại chợt nổi hứng nghịch ngợm. Tôi vội nháy mắt cho Hợp “bợm”. Thằng này đúng là Bợm. Nó hiểu ngay và gật gù đáp trả. Dũng “khèo” hiểu chậm hơn một tí.

Để cho anh Đắc về nhất hai ba ván, Đại trưởng khoái lắm, cười khà khà đắc ý: “Lính Hà (nội) cùng thường thôi”.

Tôi nhìn nhanh thằng Hợp, nó cũng chẳng thèm nhìn tôi đã gật đầu rồi. Anh Đắc ngậm bát ngay ván sau đó và… ngậm mãi hơn 1 tiếng liền. Nước bọt nhểu cả xuống chiếu. May mà đến giờ ăn cơm. Khi đứng lên, tôi nói kháy: “Lính Hà cũng thường thôi”. Anh vừa lau nước bọt vừa cười không hề khó chịu. Ngẫm lại, nếu là mình, mình có chịu kiên trì ngậm bát như thế không?

Kỷ niệm thứ hai.

Một tối hè, trời mưa như trút, đại đội không thể sinh hoạt ở ngoài trời mà phải ngồi trong lán của B1. Hôm đó kiểm điểm tình hình tập luyện trong tuần. Anh Đắc có vẻ không vui như thường lệ. Sau một hồi phê bình “say sưa”, lính tráng im thin thít tập trung nghe.

- … các cậu tập tành như cái con… - chúng tôi chờ anh văng ra cái cục mà thằng nào cũng có. Nhưng sau hai ba giây đắn đo anh nói to: “… con ma tịt”. Không khí yên lặng biến mất, tiếng cười râm ran 2 dãy sạp. Thằng Hợp “bợm” lại còn dở ngây dở ngô: “Con ma tịt là con gì Đại trưởng ơi!”. Anh không trả lời và lại cười, cái điệu cười xòe ra mà cả thế giới này mình anh có và lại kéo cái môi trên xuống che hàm răng của mình một cách… “e thẹn”. Sau chuyện này tôi thầm phục khả năng kiềm chế của anh. Trong mọi tình huống anh không để cái “tự nhiên chủ nghĩa” phô ra một cách thiếu văn hóa.

***
Những ngày tháng đẹp đẽ ấy rồi cũng chấm dứt. Chúng tôi không phải đi chống FULRO (11), hay chuyển vào Tây nguyên theo kế hoạch của Sư đoàn nữa, dù đã được nghỉ phép 15 ngày (12).

Cuối 76 đầu 77, Trung doàn tôi chuyển sang làm nhiệm vụ xây dựng kinh tế. Các đơn vị binh chủng như: trinh sát, thông tin, pháo, công binh… bị giải thể, các tiểu đoàn bộ cũng không còn tồn tại. Đại đội trinh sát được xé nhỏ, phân tán về các Đội xây lắp mà cơ sở của nó là các Đại đội bộ binh của 3 tiểu đoàn.

Chúng tôi chia tay ngậm ngùi… lưu luyến…

Tôi đeo ba lô về Đội xây lắp 1 (C1, D1 cũ) mà lòng tan nát.

Những ngày trong trẻo của cuộc đời tôi vĩnh viễn nằm lại quả đồi Thanh Hà cùng với kỷ niệm về Đại đội Trinh sát và anh – Người Thủ trưởng duy nhất mà tôi yêu quí.

Đi thăm anh Đắc ngày 5/5/2013. Từ trái qua phải.Hàng trước: Chung "Chi lê", anh Đắc, Châu "bò", Hùng "mề gà", tác giả.
Hàng sau:Vinh "nhà thổ", Vinh "da bo", Vinh "ngô"

Ghi chú:
(1) Trần Trọng Vinh - Vinh “nhà thổ”. Sau khi đánh Tầu, ra quân năm 1980 với quân hàm Trung sĩ. Hiện có một quán nước nhỏ ở phố Vân đồn kiêm Trưởng ban Liên lạc Đại đội.
(2) Cao Chính Thiện – Hiện Quyền vụ trưởng 1 vụ của Bộ Ngoại giao.
(3) Nguyễn Thanh Hiền – Tốt nghiệp Đại học Quân y. Hiện nay là Bác sĩ, Chuyên khoa cấp 2, Chủ nhiệm khoa Ngoại bệnh viện 115 – Thành phố Hồ Chí Minh.
(4) Nguyễn Thị Hoa – Tốt nghiệp Đại học Y Hà nội. Hiện nay là Bác sĩ, Chuyên khoa cấp 2, Chủ nhiệm khoa Tiêu hóa Bệnh viện Nhi đồng 2 – TP. HCM.
(5) Phạm Quang Minh – Tốt nghiệp khoa Cơ khí, Đại học Nông nghiệp I. (con trai Phó thủ tướng Trần Phương)
(6) Không phải ba lô không đựng được sách, mà mỗi lần báo động chiến đấu, hoặc di chuyển. Thằng nào để sót quân tư trang ở lại doanh trại sẽ bị kỷ luật. Vì vậy, tôi phải “mua” thông tin báo động từ thằng liên lạc, rồi mang thùng lương khô vào gửi trong nhà dân.
(7) Vàng Pao (1929–2011) - Thủ lĩnh các bộ tộc H’mông của Lào (Vua Mèo), chỉ huy Lực lượng Đặc biệt do Mỹ tài trợ nhằm chống phá Pathet Lào và Việt nam.
(8) Hoàng Đặng Phú - Phú “mều” năm 1979 được sang học Đại học ở Liên xô, chuyên ngành Hàn. Bị tai nạn tầu hỏa, ra quân năm 2007. Khi ra quân đang đeo lon Thượng tá.
(9) Tạ Đức Hợp - Hợp “bợm”, đi Liên xô cùng năm Phú. Hiện là PGD Công ty Kỹ thuật bay phía Nam ( A75 cũ), một trong ít người quyết định sinh mạng của tất cả các máy bay cất cánh từ sân bay Tân sơn Nhất.
(10) Phạm Hồng Dũng - Dũng “khèo”, học Đại học ở LX cũng như Phú và Hợp. Hiện là Trưởng ban Quản lý Dự án của Công ty Quản lý bay.
(11) FULRO (viết tắt của cụm từ tiếng Pháp Front Unifié pour la Libération des Races Opprimées, có nghĩa là Mặt trận Thống nhất Giải phóng các Sắc tộc bị Áp bức), là một tổ chức chính trị, quân sự do một số người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên, người Chăm, người Người Khmer Krom thành lập năm 1964 để chống lại chính quyền Việt Nam Cộng hòa đến năm 1975 và chống chính quyền Việt Nam đến năm 1992. Thời điểm kết thúc được tính là khi 407 binh sĩ FULRO cuối cùng ra giao nộp vũ khí cho quân Liên Hiệp Quốc tại Campuchia..
(12) Vào thời gian này chưa có Luật Nghĩa vụ quân sự. Lính nghĩa vụ không có phép. Chỉ được đi phép trong những trường hợp đặc biệt như: đi chiến trường B (miền Nam), bố mẹ hoặc vợ chồng chết.
(13) Anh Nhâm Văn Đắc – sau khi tham gia đánh Tầu ở biên giới phía Bắc, ra quân với quân hàm Thượng úy, Trưởng ban Trinh sát Sư đoàn 338. Về quê xã Phú Xuyên, huyện Đại từ, Thái nguyên làm Bí thư Đảng ủy Xã. Năm 2012 anh bị tai biến mạch máu não, hiện đi lại rất khó khăn.
(14) Phân nửa lính Trinh sát (C20) thuở ấy sau này trở thành Kỹ sư, Bác sĩ, 1 người là Tiến sĩ, 3 Đại tá đương chức, 1 Thượng tá đã về hưu. Chúng tôi vẫn gặp nhau hàng năm nhân dịp 30-4 và tổ chức lên thăm anh Đắc ở Đại từ 3 lần. Lần gần nhất vào ngày 5/5/2013.

Nguyễn Thanh Quang

Bình chọn
0
Bình luận
Tên bạn:
Email:
Điện thoại:
Nội Dung:
Xác nhận:

 

 12920903_10154265967037439_1885565775_n

 15036560_1679727945670552_6529024804734984949_n

 

Trong hình ảnh có thể có: một hoặc nhiều người và văn bản

 

 

 

 

 

 

 

  

 

 

Về đầu trang