18/06/2017 16:00
Lượt xem: 152
VỀ TÍNH CHÍNH XÁC VÀ TÍNH HÌNH TƯỢNG TRONG NGÔN NGỮ THƠ (Thùy Anh)

M. Gorki viết: “Ngôn ngữ là yếu tố đầu tiên của văn học”. Văn chương là nghệ thuật của ngôn từ. Ngôn ngữ nghệ thuật khác với ngôn ngữ giao tiếp thông thường và “ngôn ngữ riêng” của các ngành nghệ thuật khác. Ngôn ngữ thơ vốn là ngôn ngữ của đời sống đã được người làm thơ sử dụng như 1 thứ nguyên liệu đặc biệt để chế tác ra thứ ngôn ngữ tinh luyện và đa sắc màu. Bởi vậy, ngôn ngữ thơ phải chính xác và có những hình tượng mang tính ẩn dụ.

Ảnh: Nỗi buồn long lanh - KTS Mai Lê Minh

1. Tính chính xác:

Trong kho tàng tiếng Việt vô cùng phong phú, để diễn tả 1 ý, có thể tìm được rất nhiều từ đồng nghĩa, gần nghĩa, nhưng bao giờ cũng chỉ có 1 từ đúng nhất, hay nhất, vừa diễn tả đúng bản chất của sự vật hiện tượng, vừa có sắc thái biểu cảm tinh tế. Ví dụ, trong bài “Thề non nước”, Tản Đà viết:

“Suối khô dòng lệ chờ mong tháng ngày”.

Ban đầu, thi sĩ viết: “Suối tuôn dòng lệ”, nhưng sau ông đã quyết định thay từ “tuôn” bằng từ “khô”, bởi lẽ, “tuôn dòng lệ” thì bình thường, tất yếu, nhưng “khô dòng lệ” thì đã hàm ý: nước mắt rơi quá nhiều đến mức khô cạn, giống như con người khóc nhiều đến nỗi không còn nước mắt để mà khóc nữa, dòng suối đã “khô” thì khác nào dòng suối chết. Từ “khô” diễn tả nỗi buồn thương đến kiệt cùng, đến tàn tạ, héo hon. Chẳng từ nào hay hơn, đau đớn hơn từ “khô” ấy!

Còn bài “Mưa xuân” của Nguyễn Bính có câu:

“Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay”.

Tại sao tác giả không dùng từ “lất phất bay”, “nhè nhẹ bay” ... để tả mưa xuân, mà lại dùng từ “phơi phới bay”? Đó là vì từ “phơi phới” vừa diễn tả được đặc điểm “nhè nhẹ”, “lất phất” của những hạt mưa bụi trong gió xuân, lại vừa kín đáo bày tỏ niềm vui phơi phới trong lòng người con gái khi nghĩ đến người thương:

Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay
Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy
Hội chèo làng Ðặng đi ngang ngõ
Mẹ bảo: “Thôn Ðoài hát tối nay”

Lòng thấy giăng tơ một mối tình
Em ngừng thoi lại giữa tay xinh
Hình như hai má em bừng đỏ
Có lẽ là em nghĩ đến anh...” 

(Mưa xuân – Nguyễn Bính)

Còn rất nhiều trường hợp tương tự về tính chính xác của ngôn ngữ thơ. Ví dụ như Nguyễn Du tả Kiều thì phải là “hoa ghen, liễu hờn”, còn tả Vân thì là “mây thua, tuyết nhường” để không chỉ cực tả nhan sắc tuyệt đỉnh, mà còn dự báo về số phận tương lai của hai chị em Kiều.

Đấy là những ví dụ trong thơ ca kinh điển thuở trước. Còn nay, rất nhiều bài thơ của các tác giả hiện tại cũng sử dụng ngôn ngữ thơ vô cùng tinh tế. Bài thơ lục bát “Tìm chồng” của tác giả Đặng Khánh Cường là một tiếng nấc ứa máu mà mỗi lần đọc là một lần nghẹn ngào. Ngay câu thơ mở đầu, ta đã bắt gặp một từ không thể thay thế, đó là từ “nát” trong cụm từ “tay cào nát cỏ”:

“Trải qua bốn chục mùa đông
Tay cào nát cỏ mà không thấy người”

Không thể dùng từ “rách”, “xước”…, mà nhất định phải là “nát” mới thể hiện đúng đôi bàn tay vừa tuyệt vọng, vừa hy vọng cào bới từng đám đất, từng bụi cỏ, năm này sang năm khác, đến mức bàn tay bật máu, và trảng cỏ cũng nát bươm, từng lá cỏ cũng không còn hình hài. Thế mới diễn tả được nỗi đau đớn tột độ về cả thể xác lẫn tinh thần của người vợ mòn mỏi tìm chồng sau chiến tranh.

Như vậy, đủ để thấy, ngôn ngữ thơ cần sự chính xác, tinh tế đến bậc nào!

2. Những hình tượng mang tính ẩn dụ.

Có lẽ đây là một đặc điểm thể hiện trí tuệ sâu sắc nhất của ngôn ngữ thơ. Thơ, nếu chỉ tả thực đơn thuần, sẽ dễ nhàm chán, đơn điệu. Nhưng nếu ngôn ngữ thơ có thể tạo nên những hình tượng ẩn dụ đa dạng/ đa diện/đa tầng nghĩa, thì đó thực là thứ thơ hàm súc, ý tại ngôn ngoại.

Hình tượng thơ có thể là đường nét, màu sắc của sự vật hiện tượng. Ta gặp điều này trong câu “những luồng run rẩy rung rinh lá” ở bài “Đây mùa thu tới” của Xuân Diệu. Câu thơ này quả thực tài hoa, bởi lẽ nhà thơ không tả gió mà cảm giác về những cơn gió lạnh cứ thổi đến, gai người. Đấy là vì cách lặp 4 phụ âm R liên tiếp cực “độc” ở những từ “run rẩy rung rinh” và điệp 2 phụ âm L cách quãng ở từ “luồng” và “lá”. Từ đó, hình tượng mùa thu trở nên vô cùng gợi hình, gợi cảm!

Huy Cận, nhà thơ sầu mộng với cảm hứng vũ trụ cũng có những hình tượng thơ bất hủ. “Tràng giang” là một ví dụ. Ngay khổ thơ đầu, các từ láy liên tiếp “điệp điệp”, “song song”, và tiểu đối “thuyền về - nước lại” đã tạo ra một trường cảm xúc về nỗi sầu bất tận trong hình tượng “tràng giang” – con sông mênh mông của cuộc đời:

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp
Con thuyền xuôi mái nước song song
Thuyền về nước lại sầu trăm ngả
Củi một cành khô lạc mấy dòng

(“Tràng giang” – Huy Cận)

Ngay cả hình ảnh “củi một cành khô lạc mấy dòng” cũng là một ẩn dụ đặc sắc về sự đơn chiếc, bé nhỏ, mỏng manh, trôi dạt của một kiếp người đa tài nhưng long đong, loay hoay giữa cuộc sống bộn bề chật chội. Ngoài ra, trong toàn bài còn rất nhiều thi ảnh đẹp, là những hình tượng mang đậm cảm quan thẩm mỹ và kín đáo gửi gắm tâm sự nỗi niềm của nhà thơ.

Nói đến ẩn dụ trong thơ ca, thì ca từ trong các sáng tác của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn là những tuyệt phẩm. Ví dụ, bài “Tuổi đá buồn” với những câu ca day dứt:

“Trời còn làm mưa, mưa rơi, mưa rơi 
từng phiến băng dài trên hai tay xuôi 
tuổi buồn em mang đi trong hư vô 
ngày qua hững hờ...” 

(Tuổi đá buồn - Trịnh Công Sơn)

Những hình ảnh ẩn dụ (phiến băng dài, tuổi buồn, đi trong hư vô, ngày qua hững hờ...) kết hợp với láy âm (mưa, mưa rơi, mưa rơi), đảo ngữ (tuổi buồn em mang đi) và kiểu nối tiếp từ ngữ ở cuối câu trước với đầu câu sau (mưa rơi từng phiến băng, trong hư vô ngày qua) mang sắc thái trừu tượng đầy ma lực, lôi cuốn ta theo nhịp điệu và thấm vào tâm cảm một nỗi buồn vô tận của “Tuổi đá buồn”.

Có thể kể đến rất nhiều ví dụ khác trong thơ ca cổ kim, đông tây những hình tượng mang tính ẩn dụ giàu ý nghĩa. Ngôn ngữ bình thường thì dễ hiểu, nhưng thường bằng phẳng, nhạt nhẽo. Còn ẩn dụ giúp ngôn ngữ thoát khỏi sự tầm thường, đem cái lạ vào ngôn ngữ, tạo hình ảnh, gợi chiều sâu. Nhờ có những hình tượng ẩn dụ, tác phẩm thơ sẽ có khả năng khái quát hóa được nhiều mặt, nhiều vấn đề của cuộc sống.

Trần Mai Hường là một nhà thơ có nhiều bài xây dựng được hình ảnh ẩn dụ bất ngờ, thú vị. Ví dụ, bài “Xin lửa rơm đừng cháy nữa” có những câu rất hay:

“Thả vào dòng sông bằng trắc 
Thả vào quên nhớ xanh xao
Xin lửa rơm đừng cháy nữa
Thôi đừng ta nhé - chiêm bao...”

(Xin lửa rơm đừng cháy nữa - Trần Mai Hường)

Nào là “dòng sông bằng trắc”, nào là “quên nhớ xanh xao”, rồi thì “lửa rơm”, rồi thì “chiêm bao”… Đấy đều là ẩn dụ cho tình yêu mãnh liệt của người đàn bà làm thơ. Vần điệu trắc/bằng êm mượt cho thơ ca như một dòng sông, còn nỗi thương niềm nhớ hay điều quên của tình yêu có thể khiến xanh xao cả tâm hồn… Tất cả những gì trừu tượng nhất đều hiển hiện cụ thể, hữu hình đầy rung cảm, vì thế mà thơ tình của Mai Hường cứ làm run rẩy theo biết bao nhiêu trái tim người đọc.

Trong thơ có những hình ảnh ẩn dụ mà bình thường vốn được cảm nhận bằng giác quan này, nhưng người làm thơ lại miêu tả bằng giác quan khác. Ví dụ cái “quên nhớ xanh xao” trong bài thơ trên của Trần Mai Hường. Chỉ là cảm giác “quên” và “nhớ” mà nhìn được cả bằng mắt thường cái màu “xanh xao”, thì ta phải hiểu rằng, đấy là vì nhớ nhung quá đến nỗi xanh xao hao gầy cả hình hài! Trong văn chương, người ta gọi đó là phép ẩn dụ chuyển đổi cảm giác. Kiểu ẩn dụ này buộc người đọc phải liên tưởng, nhập vai, tưởng tượng nhiều hơn, và cũng nhờ vậy mà sẽ hiểu sâu hơn những điều tác giả muốn nói.

Bình thường, thơ có nhiều hình tượng ẩn dụ thì kén người đọc. Có hình tượng dễ hiểu, cũng có hình tượng đọc mãi vẫn thấy trúc trắc trục trặc, chả hiểu gì. Trừ khi người làm thơ cố tình chơi khó bạn đọc, còn lại thì đa phần, những hình tượng ẩn dụ một khi được đặt trong toàn bài, không khó để hiểu. Ví dụ, bài thơ “Khoảng trống” của tác giả Đặng Khánh Cường đã tạo nên một hình tượng “khoảng trống” đầy sức gợi về sự trống trải của tâm hồn, rộng ra là sự trống vắng, hụt hẫng đầy trách nhiệm của con người trước thế sự bất như ý:

KHOẢNG TRỐNG

Có những thứ vô tình làm vỡ
Mảnh vụn bỏ đi
Còn khoảng trống,
lâu dần không thấy nữa.

Có những thứ hằng nâng niu, gìn giữ
Vẫn dần dần vỡ
Không mảnh vụn,
trong ta.
Mà khoảng trống
Ngày mỗi rộng thêm ra.

(Đặng Khánh Cường)

Tiện đây xin nói thêm về một hình ảnh ẩn dụ trong thơ của chính mình – bài “Biển mây”, một lắp ghép hoàn toàn ngẫu hứng từ 3 tấm ảnh chụp mây trời. Khổ thơ cuối đã nhận được câu hỏi của bạn về “nỗi buồn long lanh”:

“Lặng thinh về xa ngái
Trắng những cụm vô tình
Miên du chìm đáy nước
Soi nỗi buồn long lanh...”

(Biển mây - Thùy Anh)

Cả một biển mây trắng trập trùng, nếu nhìn lên thì cảm giác như mây đang bay về miền rất xa, vô tình bỏ lại bầu trời xanh thẳm. Nhưng nếu nhìn xuống dòng sông phẳng lặng phía dưới thì lại thấy ngàn mây trắng như lặng chìm trong giấc miên du tận đáy sông sâu. Dòng xanh trong vắt, nước long lanh soi những áng mây buồn. Với “nỗi buồn long lanh”, cảnh trời mây, non nước tinh khôi và bao la một nỗi niềm sâu thẳm nhưng trong trẻo, thuần khiết. Với “nỗi buồn long lanh”, cảm giác sự vô tình nào đó đã khiến đôi mắt hồ thu rưng rưng những giọt buồn… Vậy thôi. Có những nỗi buồn long lanh như thế có thật ở ngoài đời.

Nếu không dùng ẩn dụ, thì sẽ khó tạo những liên tưởng và khó gửi gắm xúc cảm một cách kín đáo và tế nhị vào thơ ca.

Lời kết:

Bài viết này chưa phải là một bài nghiên cứu đúng nghĩa về tất cả các đặc điểm ngôn ngữ thơ, chỉ là một vài phác họa sơ lược về 2 đặc điểm cơ bản là tính chính xác và tính hình tượng của ngôn ngữ thơ. (Vì ngôn ngữ thơ còn nhiều đặc điểm khác như tính biểu cảm, tính nhạc v.v...). Tuy vậy, hy vọng những phác thảo trên đây có thể làm rõ phần nào những cái hay, cái đẹp của thơ ca. Âu cũng là một bước tiệm cận đến tâm hồn người có tâm sáng tạo.

Để từ Thơ, sẽ biết được ai người Tri âm, Tri kỷ…

11/5/2017
Thùy Anh.

 

 

12920903_10154265967037439_1885565775_n 

Bình chọn
0
Bình luận
Tên bạn:
Email:
Điện thoại:
Nội Dung:
Xác nhận:
Video mới nhất
  Tại một trang tạ

 

 12920903_10154265967037439_1885565775_n

 15036560_1679727945670552_6529024804734984949_n

 

12920903_10154265967037439_1885565775_n

 

 

 

 

 

 

 

  

 

 

Về đầu trang